Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

Cái giá Saudi Arabia phải trả khi châm ngòi cuộc chiến giá dầu



Nền kinh tế Saudi Arabia có thể sẽ là một trong những nạn nhân lớn nhất nếu giá dầu không thể phục hồi.
Thái tử Saudi Arabia - Mohammed bin Salman cuối tuần trước khơi mào cuộc chiến giá dầu, với tuyên bố hạ giá bán và tăng sản lượng, sau cuộc đàm phán thất bại với Nga. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng cái giá để chiến thắng có thể khiến ông ngần ngại theo đuổi cuộc chiến này trong thời gian dài.  
Nếu giá dầu không thể hồi phục và giao dịch ở mức chưa bằng một nửa so với mức Saudi Arabia cần để cân bằng ngân sách, nền kinh tế này có thể là một trong những nạn nhân lớn nhất. Năng lượng hiện đóng góp tới 80% xuất khẩu và hai phần ba nguồn thu của quốc gia này.
Nếu dầu Brent duy trì ở mức 35 USD, và Saudi Arabia không điều chỉnh chi tiêu công, thâm hụt ngân sách của họ sẽ tương đương 15% GDP năm nay. Trong khi đó, Abu Dhabi Commercial Bank cho biết, dự trữ ngoại hối ròng có thể cạn kiệt trong 5 năm, trừ phi họ sử dụng các nguồn thu khác. Goldman Sachs Group cũng dự báo năm nay, thâm hụt của nước này vào khoảng 12%, khiến nhu cầu tài chính tăng 36 tỷ USD.
Tarek Fadlallah - Giám đốc khu vực Trung Đông tại Nomura Asset Management nhận định: "Saudi Arabia đã tích được khối dự trữ khổng lồ, cho phép họ chống chịu qua thời gian giá thấp kéo dài. Tuy nhiên, việc này cũng có giá của nó. Số tiền đó lẽ ra có thể dùng vào mục đích đa dạng hóa nền kinh tế".
Một cơ sở lọc dầu của Saudi Aramco tại Saudi Arabia. Ảnh: Bloomberg
Thị trường dầu trước đó có phiên mất giá mạnh nhất kể từ Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991. Nguyên nhân là OPEC và các đồng minh không thể thống nhất về việc tiếp tục hạ sản lượng để cứu giá dầu. Có thời điểm, dầu Brent và WTI mất hơn 30%, xuống thấp nhất kể từ năm 2016.
Sáng qua, cả hai loại dầu đã hồi phục, với mức tăng hiện tại hơn 3%. Dù vậy, cả Bank of America Global Research và Goldman Sachs đều dự báo giá có thể về 20 USD.
Saudi Arabia vẫn đang chịu tổn thương từ đợt lao dốc của giá dầu cách đây 6 năm. Hiện tại, họ tham gia cuộc đua với nền tảng kinh tế đang trên đà hồi phục. Tuy nhiên, tài sản nước ngoài ròng của họ hiện tại chỉ bằng hai phần ba so với đỉnh năm 2014. Chính phủ cũng dự báo thâm hụt ngân sách 6,4% GDP năm nay, với giả thiết dầu Brent trung bình 65 USD một thùng. Còn để cân bằng ngân sách năm nay, họ cần giá lên 84 USD.
Cú sốc giá dầu xảy đến đúng thời điểm Covid-19 lan rộng, kéo tụt nhu cầu năng lượng thế giới và làm xô lệch mọi tính toán kinh tế của Saudi Arabia. Thị trường đã lập tức bày tỏ phản ứng, khiến chứng khoán và trái phiếu Saudi Arabia lao dốc hôm qua.
"Rõ ràng thị trường đang đặt cược tài chính của Saudi Arabia giảm sút nghiêm trọng. Trong ngắn hạn, họ vẫn có đủ vũ khí để vượt qua giai đoạn này. Nhưng nếu tình trạng này kéo dài, các vấn đề nền tảng sẽ nảy sinh", Abdul Kadir Hussain - Giám đốc phụ trách công cụ trả lãi cố định tại Arqaam Capital nhận định.
Hôm qua, trái phiếu của vương quốc này thuộc nhóm chịu tác động mạnh nhất khu vực. Cổ phiếu đại gia dầu mỏ Saudi Aramco cũng giảm kịch sàn, ngày càng xa mục tiêu vốn hóa 2.000 tỷ USD của chính phủ.
Monica Malik - kinh tế trưởng tại Abu Dhabi Commercial Bank cho rằng Saudi Arabia còn nhiều bộ đệm kinh tế, đủ để quan sát diễn biến thị trường dầu và chờ đợi câu trả lời của Nga. "Tuy nhiên, bộ đệm hiện tại đã yếu hơn năm 2014. Nếu cuộc chiến kéo dài và giá dầu vẫn chịu sức ép, Saudi Arabia sẽ lại phải phải giảm chi và thực hiện nhiều biện pháp thắt lưng buộc bụng", vị này nói.
Thỏa thuận với Nga đổ vỡ đẩy Saudi Arabia vào tình thế khó khăn. Nếu họ chọn tham gia cuộc chiến trường kỳ, thắt lưng buộc bụng sẽ không dễ dàng được chấp nhận tại đất nước mà người dân đã quá quen với các chính sách trợ cấp, việc làm và chi tiêu công hào phóng.
Ngược lại, Nga sẵn sàng rời bỏ liên minh với OPEC để tấn công các đối thủ tại Mỹ, vì so với Saudi Arabia, nước này ít chịu ảnh hưởng hơn từ giá dầu thấp. Ngân hàng trung ương Nga đã gây dựng lại khối dự trữ nước ngoài, hiện ở mức cao nhất kể từ tháng 8/2008. Bên cạnh đó, không như Saudi Arabia, Nga thả nổi đồng rouble, giúp họ linh hoạt chính sách trong thời kỳ nguồn thu từ dầu mỏ thấp.
Xét đến tầm quan trọng của chi tiêu công và an sinh xã hội, "độ nhạy cảm trong nước của Saudi Arabia với kinh tế trượt dốc cao hơn Nga", Hasnain Malik - giám đốc chiến lược cổ phiếu tại Tellimer cho biết, "Cả hai đều có nguồn lực tài chính và mục tiêu duy trì cuộc chiến giá trong một thời gian, có thể là hàng quý, thay vì hàng tháng. Dù vậy, giá dầu giảm mạnh như hôm qua có thể rút ngắn cuộc chiến này".
Một vấn đề khác sẽ bị ảnh hưởng là kế hoạch chuyển đổi kinh tế của Thái tử Mohammed bin Salman cho quốc gia này. Họ muốn tránh phụ thuộc vào dầu thô, thông qua xây dựng các ngành công nghiệp mới như khai mỏ, du lịch hoặc giải trí.
Tuy nhiên, dù đã nới lỏng quy định và cải cách hành chính, giới chức nước này vẫn chưa thể khôi phục dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như họ nhận được cách đây 10 năm. FDI khi đó lớn gấp 8 hiện tại.
Để giảm sức ép lên tài chính, Saudi Arabia có thể kéo dài thời gian bằng cách tìm đến thị trường nợ. Gần 2 tháng trước, họ phát hành 5 tỷ USD trái phiếu, nhằm chặn lại đà thâm hụt ngân sách. Năm nay, họ lên kế hoạch bán tổng cộng 32 tỷ USD trái phiếu.
Khi ngân sách chính phủ ngày càng thâm hụt, Saudi Arabia cần đến khối dự trữ ngoại tệ để điều chỉnh dần dần chính sách tài khóa, Steffen Hertog - chuyên gia Vùng Vịnh tại Trường Kinh tế London cho biết. "Một cuộc chiến giá sẽ khiến số tiền này hao hụt nhanh chóng, buộc họ thực hiện các điều chỉnh nhanh hơn và đau đớn hơn. Dự trữ của Saudi Arabia hiện chỉ bằng hai phần ba năm 2014 - đợt lao dốc gần nhất của giá dầu. Vì thế, cuộc chiến giá kéo dài sẽ khiến họ thiệt hại lớn", ông nói.

Kinh tế Mỹ có thể lộ 'gót chân Asin' vì Covid-19



Mỹ Khi Covid-19 bùng phát, chi tiêu của người dân và doanh nghiệp chậm lại có thể khiến các công ty dùng đòn bẩy tài chính lớn vỡ nợ.

Khi nền kinh tế tăng trưởng liên tục đến năm thứ 11 và lãi suất vay ở mức cực thấp thì nợ của doanh nghiệp cũng nhờ thế phình to. Hiện nay, nợ của khối doanh nghiệp Mỹ đã vượt qua nợ hộ gia đình, lần đầu tiên kể từ năm 1991.
Hơn nữa, việc vay mượn lại ngày càng tập trung vào các công ty có rủi ro cao, vốn ít nguồn lực tài chính để vượt qua những khó khăn do Covid-19 gây ra. Làn sóng vỡ nợ sẽ làm trầm trọng thêm tác động kinh tế của dịch bệnh. "Đây sẽ là một áp lực suy thoái kinh tế ở Mỹ", Nariman Behravesh, Kinh tế trưởng tại IHS Markit, bình luận.

Nợ doanh nghiệp tại Mỹ qua các năm. Đơn vị: nghìn tỷ USD. Đồ họa: Bloomberg
Các công ty năng lượng đặc biệt dễ bị tổn thương, do giá dầu giảm. Nhưng họ không đơn độc. Trái phiếu của các hãng du lịch, ví dụ như American Airlines và Hertz Global Holdings, cùng các rạp phim và sòng bạc, đã bị ảnh hưởng nặng.
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell bác bỏ các so sánh giữa nợ doanh nghiệp với bong bóng nợ nhà ở trước khủng hoảng. Ông cho rằng hệ thống tài chính hiện có khả năng xử lý các khoản lỗ tín dụng tốt hơn. Nhưng ông thừa nhận một số doanh nghiệp nợ có thể phải đối mặt với những căng thẳng nghiêm trọng nếu nền kinh tế xấu đi. Các doanh nghiệp này cũng sẽ lan tỏa tác động đến nền kinh tế thông qua việc sa thải công nhân và cắt giảm đầu tư.
Fed đang cố gắng nâng đỡ nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp trước sự tấn công của Covid-19 bằng cách cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính. Ông Nariman Behravesh nói rằng Quốc hội và Nhà Trắng cũng sẽ phải hành động. "Chúng ta sẽ cần họ thành lập một quỹ cứu trợ, và quyết định phân bổ đến những đâu", vị chuyên gia nói.
Tổng thống Mỹ Donald Trump nói với các phóng viên hôm thứ hai (9/3) là sẽ tìm cách cắt giảm thuế quỹ lương, nhất là trong các ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19, vài giờ sau khi thị trường chứng khoán có phiên giảm tệ nhất 12 năm.

Một người đeo khẩu trang đi bộ dọc theo phố Wall, New York. Ảnh: Reuters
Có khoảng 1.300 tỷ USD trái phiếu lãi suất cao đang lưu hành, tăng từ 786 tỷ USD một thập kỷ trước. Quy mô thị trường tín dụng đã tăng hơn gấp đôi, lên 6.000 tỷ USD trong cùng kỳ. Gần một nửa thị trường trái phiếu hiện được xếp hạng tín dụng BBB, có nghĩa là nó có thể bị hạ cấp xuống mức không nên đầu tư nếu nền kinh tế lao dốc.
Trong thị trường cho vay với đòn bẩy 1.150 tỷ USD, nhiều người đi vay đã điều chỉnh lợi nhuận của mình để giảm tỷ lệ nợ. Một khi suy thoái đến, điểm yếu của họ có thể bị phơi bày. Các nhà phân tính của Barclays tính toán rằng, những người thu mua nợ của Mỹ sẽ chỉ có thể thu hồi 55 đến 60 cent trên một USD tiền nợ, so với 67 cent trong lịch sử, do các công ty đã tính toán thu nhập đáng ngờ và tăng nợ.
Khi không còn cơ hội tiếp cận các kênh tài chính lớn, các công ty tuyệt vọng đang chuyển sự chú ý sang thị trường tín dụng tư nhân trị giá 812 tỷ USD. Nhưng đó có thể không phải là bài thuốc chữa bệnh.
Matthew Mish, Chiến lược gia tín dụng của UBS, cho biết sự chậm lại trong chi tiêu của người tiêu dùng và doanh nghiệp có thể gây tổn hại đặc biệt cho các khoản vay hợp vốn và tín dụng tư nhân, vốn phần lớn là nợ xếp loại B trở xuống. Khoản nợ đó là một trong những rủi ro cao nhất. Khi có biến động xấu, nó có thể bị hạ cấp còn CCC, tức mức thấp nhất.
"Các công ty có các bảng cân đối tài chính dễ bị tổn thương, nghĩa là ít tiền, nợ đáo hạn cao, sẽ gặp khó khăn trong việc chi trả", ông Mohammed El-Erian, Cố vấn kinh tế tại Allianz SE, nhận định. "Sẽ có sự gia tăng của nợ xấu", ông nói.

Dầu phục hồi nhẹ sau đợt giả mạnh



Các hợp đồng dầu thô tương lai quay đầu tăng mạnh vào ngày thứ Ba (10/03), phục hồi phần nào đà lao dốc trong phiên trước đó khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Nhà Trắng và Quốc hội sẽ họp để xem xét các biện pháp cứu trợ kinh tế “rất đáng kể” để đối phó dịch COVID-19, thúc đẩy tâm lý ưa thích rủi ro, MarketWatch đưa tin.

“Đà phục hồi của dầu trong ngày thứ Ba là rất khiêm tốn so với đà lao dốc của ngày thứ Hai (09/03)”, Tyler Richey, Đồng biên tập tại Sevens Report Research, nhận định.
Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Ba, hợp đồng dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 4 trên sàn Nymex vọt 3.23 USD (tương đương 10.4%) lên 34.36 USD/thùng, sau khi lao dốc 24.6% trong ngày thứ Hai (09/03).
Hợp đồng dầu Brent giao tháng 5 trên sàn Luân Đôn cộng 2.86 USD (tương đương 8.3%) lên 37.22 USD/thùng. Hôm thứ Hai, hợp đồng này đã rớt 24.1%.
Đà lao dốc trong ngày thứ Hai của cả 2 hợp đồng dầu Brent và dầu WTI là mạnh nhất kể từ tháng 01/1991 xảy ra Chiến tranh vùng Vịnh. Giá dầu giảm mạnh sau khi Ả-rập Xê-út hồi cuối tuần trước đã giảm giá dầu thô xuất khẩu trong một động thái mà nhiều người thấy rằng là nhắm vào Nga khi đã từ chối kế hoạch cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
OPEC đã thúc đẩy các thành viên cùng với các đồng minh do Nga dẫn đầu cắt giảm sâu hơn mức sản lượng hiện tại thêm 1.5 triệu thùng/ngày, nhưng Moscow đã từ chối hành động này trong các cuộc thảo luận thất bại hôm thứ Sáu mà không có thỏa thuận nào được đưa ra, điều đó có nghĩa là thỏa thuận cắt giảm hiện tại sẽ hết hạn vào cuối tháng 03/2020 và các thành viên trong và ngoài OPEC có thể tự do sản xuất dầu.
Khả năng xảy ra cuộc chiến giá dầu giữa Nga – Ả-rập Xê-út kết hợp với những lo ngại về tác động của dịch COVID-19 đến nền kinh tế đã làm chao đảo thị trường tài chính trong ngày thứ Hai (09/03). Tuy nhiên, giá dầu đã phục hồi vào ngày thứ Ba, khi các thị trường châu Á và châu Âu khởi sắc, và các chỉ số chứng khoán Mỹ ghi nhận sắc xanh sau khi ông Trump đưa ra phác thảo về một kế hoạch cứu trợ. Dow Jones hôm thứ Hai đã “bốc hơi” 2,013.76 điểm (tương đương 7.8%).
Vào ngày thứ Ba, Tập đoàn dầu mỏ Aramco của Ả-rập Xê-út cho biết sẽ tăng lượng dầu thô có sẵn cho khách hàng lên 12.3 triệu thùng/ngày trong tháng 04/2020. Công ty này dự kiến sẽ sản xuất thêm 9.8 triệu thùng/ngày. Bộ trưởng Năng lượng Nga, Alexander Novak, cho biết nước này có khả năng nâng sản lượng lên tới 500,000 thùng/ngày trong dài hạn, nhưng không hoàn toàn khép lại cánh cửa hợp tác với OPEC trong tương lai, S&P Global Platts đưa tin.
Bên cạnh đó, tâm lý ưa thích rủi ro cũng được thúc đẩy nhờ chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, vào ngày thứ Ba đến Vũ Hán, vốn là tâm dịch và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19, trong khi Trung Quốc báo cáo số ca nhiễm mới ít hơn trong những ngày gần đây.
Cũng trong phiên giao dịch ngày thứ Ba, hợp đồng xăng giao tháng 4 tiến 1.8% lên 1.1571 USD/gallon. Hợp đồng dầu sưởi giao tháng 4 vọt 7.5% lên 1.2499 USD/gallon.
Hợp đồng khí thiên nhiên giao tháng 4 tăng 8.9% lên 1.936 USD/MMBtu.

Dow Jones tăng hơn 1.100 điểm


Phố Wall tăng mạnh trong phiên 10/3, khi nhà đầu tư kỳ vọng các nước công bố gói hỗ trợ để kiềm chế tác động kinh tế của Covid-19.

Nhân viên môi giới trong Sở giao dịch chứng khoán New York. Ảnh: Reuters 

Chốt phiên 10/3, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 1.167 điểm, tương đương 4,9%, lên trên 25.000 điểm. S&P 500 cũng tăng 4,9% lên 2.882 điểm, đánh dấu phiên giao dịch tốt nhất kể từ 26/12/2018. Trong khi đó, Nasdaq Composite vượt gần 5% so với tham chiếu, lên mức 8.347 điểm.

Cổ phiếu Facebook, Amazon, Apple, Netflix và Alphabet đều tăng hơn 4,8%. JPMorgan Chase và Home Depot dẫn đầu Dow Jones khi vượt 7% trên ngưỡng tham chiếu. Nhóm cổ phiếu công nghệ và tài chính giao dịch tích cực nhất trong S&P 500 với biên độ ít nhất 6% mỗi ngành. Cổ phiếu nhóm năng lượng cũng tăng hơn 4%.

"Các gói kích thích tài khóa sẽ là liều thuốc thu hẹp khoảng cách giữa những gì xảy ra trước và sau Covid-19", Brent Schutte - chiến lược gia đầu tư tại Northwestern Mutual Wealth Management đánh giá, "Nó chắc chắn không thể chữa khỏi bệnh viêm phổi, nhưng có thể chữa một số 'bệnh' của nền kinh tế". Theo ông, diễn biến phiên hôm qua cho thấy nhà đầu tư đang đánh giá xem liệu quy mô kích thích kinh tế đã đủ hay chưa.

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm qua thông báo sẽ thảo luận với Quốc hội về kế hoạch hỗ trợ nền kinh tế dưới tác động của Covid-19, như giảm thuế thu nhập và hỗ trợ người nhận lương theo giờ. Tuy nhiên, một số quan chức nói với CNBC rằng, Nhà Trắng vẫn chưa đưa ra những quyết sách cụ thể để đối phó với sự suy giảm kinh tế do Covid-19 gây ra.

"Dù chúng tôi tin rằng gói kích thích tài khóa sẽ được công bố, nhưng khi nào và phạm vi tác động ra sao vẫn là điều chưa chắc chắn", Ed Mills, nhà phân tích chính sách tại Raymond James, đánh giá.

Trên thị trường dầu, giá dầu thô tăng trở lại trong phiên 10/3, sau khi mất tới 30% đầu tuần sau vì Saudi Arabia khơi mào cuộc chiến giá. Giá dầu WTI trên sàn New York chốt phiên tăng 10,4% lên 34,36 USD mỗi thùng.

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cũng quay đầu tăng khi dòng tiền không còn quá tập trung vào các tài sản an toàn. Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm tăng lên trên  0,6%, trong khi kỳ hạn 2 năm giao dịch ở mức 0,48%. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 30 năm cũng lấy lại mốc 1%, giao dịch quanh ngưỡng 1,133%.

Theo CNBC

'Sau thực tập ở Google, tôi bỏ chạy khỏi Thung lũng Silicon'



Tôi trở thành nhân viên thực tập của Google vào mùa hè năm 2016. Đây là lần thứ 2 tôi làm việc tại Google sau lần trước ở New York. Tôi chọn làm việc trong trụ sở của hãng tại Mountain View vì đây là "trái tim" của Google và cả giới công nghệ.
Tôi chưa từng xem qua Thung lũng Silicon (bộ phim hài với những chàng trai thành lập một startup tại đây), dù nghe nói bộ phim phản ánh rất đúng thực tế. Lẽ ra tôi nên xem nó trước kỳ thực tập, nhưng dù có xem thì tôi cũng không nghĩ mọi thứ ngoài đời thực lại giống trong phim đến như vậy.


Trụ sở mới của Apple tại Cupertino, California. Ảnh: BBC.

Quãng thời gian tại Thung lũng Silicon không quá tệ. Tôi nhớ những lần thả bộ quanh quận Mission, leo đồi Potrero, ngồi ăn trái cây bên Bến Ngư Phủ... Tuy nhiên, những ký ức còn lại không mấy tốt đẹp gì.
Tôi từng nghe một lãnh đạo Google nói rằng vấn đề quan trọng cần giải quyết trước mắt là tăng doanh thu quảng cáo hoặc cải thiện trải nghiệm của lập trình viên. Ngồi trong xe đưa rước của Google và nhìn tòa nhà phía bên kia, tôi thấy có khá nhiều người trông giống tôi (một cô gái da đen), nhưng họ là lao công và nhân viên bán cà phê.
Đó chỉ là một trong những lý do khiến tôi quyết định rời Thung lũng Silicon mãi mãi.
Có 3 lý do lớn khiến tôi quyết định không bao giờ làm việc tại Thung lũng Silicon. Ảnh: Getty Images.

Tôi bị mắc kẹt trong một "bong bóng công nghệ"
Không phải bong bóng thị trường, ý tôi là thứ bong bóng vô hình - một "khu cách ly" chứa những người chỉ quan tâm đến một vấn đề. Do đó, họ không biết chuyện gì đang diễn ra ngoài bong bóng.
Tôi đã nhận ra thứ bong bóng này khi thấy một nhân viên chỉ toàn tâm vào công việc của họ. Về cơ bản, bong bóng này giúp xác định vấn đề mà ngành công nghiệp mắc phải. Tuy nhiên, vấn đề của bong bóng ở San Francisco là nó bao trùm thành phố mọi lúc.
Dường như chỉ có 2 loại người ở San Francisco: làm việc trong ngành công nghệ hoặc vô gia cư. Mọi quán cà phê tôi ghé đều có rất đông người đeo tai nghe Apple, ngồi gõ bàn phím bất kể ngày đêm hay cuối tuần.
Theo quan điểm của tôi, có sự sùng bái rõ rệt cho bong bóng này. Những người làm việc trong ngành luôn cho rằng chỉ quan tâm đến công việc là tốt đẹp, trong khi người ngoài sẽ nhìn nó với ánh mắt cực kỳ tiêu cực.
Thung lũng Silicon chẳng khác gì bong bóng chứa những người chỉ tập trung vào công việc, không quan tâm đến thế giới bên ngoài. Ảnh: Unsplash.

Tôi có nhiều sở thích khác, và nó thường không liên quan đến công nghệ. Tôi nhận ra mình không thể thuộc về bong bóng này.
Dường như mọi người ở Thung lũng Silicon quên mất rằng có một thế giới bên ngoài với nhiều mối quan tâm khác nhau. Ai lại để ý xe tự lái khi hạ tầng giao thông ở khu vực họ sống còn quá tệ chứ?
"Hiệu ứng bong bóng" ở Thung lũng Silicon khiến tôi tự hỏi liệu công nghệ có giúp tay đổi cuộc sống không khi những người bên trong luôn cho rằng họ là thứ tồn tại duy nhất.
Tôi không "khôn lớn"
Giống như Peter Pan, những người ở Thung lũng Silicon mà tôi gặp có tâm hồn như những đứa trẻ. Chúng tôi có thể ăn bất cứ thứ gì khi làm việc, sử dụng từ "campus" (tòa nhà và khuôn viên quanh trường học) để đánh dấu những tòa nhà Google nơi chúng tôi làm việc. Tôi cũng trải qua sự cạnh tranh giữa những người phụ nữ, mà tôi nghĩ rằng điều đó chỉ tồn tại ở những ngôi trường cấp 2.
Khuôn viên trụ sở Google tại Mountain View. Ảnh: Tripsavvy.

Chúng tôi đến bàn bida và những quán bia sau 4 giờ chiều - nơi Google, Facebook, Apple hứa hẹn đủ điều về lợi ích của nhân viên. Tuy nhiên, tôi thấy nhu cầu của mình không phù hợp với ưu đãi của họ.
Tôi muốn tìm một công việc ổn định với sự cân bằng về sức khỏe, nơi mọi người thực sự cởi mở về cuộc sống ngoài công việc. Tuy nhiên, nó không thuộc về nơi đây. Tôi cảm thấy lạc lõng ở Thung lũng Silicon. Muốn một môi trường giúp mình trở thành một cá nhân toàn diện, tuy nhiên những gì tôi gặp chỉ là những đồng nghiệp nói chuyện công việc cả ngày hoặc về những bữa ăn đắt tiền.
Đa dạng và phân biệt chủng tộc
Tôi rất hào hứng khi sống tại San Francisco, làm việc tại Moutain View vì lịch sử của cộng đồng LGBTQ với những cuộc diễu hành quy mô lớn tại đây. Đồ ăn ở San Francisco cũng rất ngon, những người Tây duyên hải luôn hào hứng chia sẻ với tôi về cuộc sống ở thành phố.
Bên cạnh đó, những gì tôi nhìn thấy còn là cuộc sống của người vô gia cư. Mỗi sáng, nhân viên các hãng công nghệ xếp hàng chờ xe đưa rước, gần đó là những người vô gia cư nằm co ro vì lạnh. Trên vỉa hè, nhân viên với một tay cầm đồ ăn, tay còn lại cầm máy tính đắt tiền bước qua những người vô gia cư ngồi cách đó chỉ vài mét cầu xin đồ ăn, tiền và thậm chí là nụ cười.
Có lần đang nói chuyện với đồng nghiệp, tôi cắt ngang để chào một người vừa đi qua và đưa miếng bánh mới mua cho họ, đồng nghiệp của tôi sẽ hỏi tại sao làm như vậy vì nó chẳng giải quyết vấn đề gì cả.
Tôi chưa từng gặp điều này ở những thành phố khác.
Tiếp theo là vấn đề phân biệt chủng tộc. Năm 2018, báo cáo từ Viện Haas cho thấy trong khi sự đa dạng chủng tộc đang gia tăng, phân biệt chủng tộc tại trường học và các vùng lân cận không hề giảm, thậm chí còn nặng nề hơn.


Tỷ lệ người vô gia cư cao được xem là một trong những mặt tối của "thủ phủ công nghệ". Ảnh: Business Insider.

Đó là thứ tôi nhìn thấy mỗi ngày trong suốt kỳ thực tập. Tôi sống ở quận Mission, một nơi có giá nhà đất tăng cao nhờ thế hệ trẻ làm công nghệ. Mỗi buổi sáng, tôi dạo bước trên những con phố, chờ xe đưa rước của Google đến đón. Sau khi rời xe, tôi đi bộ qua khuôn viên đầy sắc xanh. Những người ở đây đa số là dân da trắng và châu Á, họ dành cho tôi một cái bàn riêng và tôi là người da đen duy nhất.
Thung lũng Silicon đã đóng góp rất nhiều cho thế giới. Những công ty có sức ảnh hưởng lớn đều đóng quân tại đây. Tuy nhiên đây không phải nơi thích hợp cho tôi, một cô gái da đen muốn trải nghiệm nhiều thứ hơn là ngồi một chỗ viết phần mềm quảng cáo.
Sau kỳ thực tập tại Google, tôi vẫn giữ ước mơ làm việc trong ngành công nghệ, nhưng công ty mà tôi làm sẽ không bao giờ nằm ở Thung lũng Silicon.

Căng thẳng Nga - Arab Saudi có thể đẩy giá dầu về 20 USD/thùng



Giá dầu giảm đến 30% khi thị trường mở cửa hôm 9/3, sau khi Arab Saudi quyết định giảm giá bán hàng hóa này cho khách hàng. Arab Saudi cũng khẳng định họ chuẩn bị tăng sản lượng dầu, nhằm trả đũa động thái của Nga khi không gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng ký kết với OPEC.
“Đây có thể coi là chiến lược vô cùng táo bạo từ phía Arab Saudi, quốc gia vốn đã và đang phải đối mặt với tình trạng sản xuất dư thừa”, theo John Kilduff từ Again Capital.
Chốt phiên 9/3, giá dầu Brent và WTI giảm mạnh nhất kể từ năm 1991, khi chiến tranh vùng Vịnh xảy ra.
Các chuyên gia dự đoán giá dầu còn có thể giảm sâu hơn nữa khi các quốc gia sản xuất dầu lớn, bao gồm thành viên OPEC và ngoài OPEC, đã sẵn sàng cho một cuộc chiến giá dầu sau khi thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu mới đổ bể hôm 6/3. Đây là diễn biến bất ngờ trước nỗ lực nhằm “cứu vớt” thị trường dầu thế giới trong bối cảnh virus Covid-19 đang ảnh hưởng nặng nề lên nhu cầu dầu mỏ toàn cầu.
“Viễn cảnh 20 USD/thùng trong năm 2020 đang đến gần”, Ali Khedery, CEO của Dragoman Ventures viết trên Twitter vào ngày 8/3. “Hệ quả của những toan tính địa chính trị. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi, nhưng nó sẽ là hậu quả hết sức nặng nề cho các quốc gia như Iraq, Iran,…vốn đang bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19”.
Giới chuyên gia cảnh báo giá dầu có thể về 20 USD/thùng trong năm 2020. 

Những bình luận trên được đưa ra 2 ngày sau khi Arab Saudi chính thức tuyên bố sẽ hạ giá bán cho khách hàng trong tháng 4, với mức giảm từ 6 đến 8 USD/thùng cho tất cả các khu vực. Các dự báo giá dầu giảm cũng đến giữa bối cảnh OPEC có thể tăng sản lượng dầu từ 9,7 triệu thùng/ngày thêm nhiều nhất là 2 triệu thùng/ngày.
Với thỏa thuận OPEC+ sẽ hết hiệu lực vào cuối tháng này, Arab Saudi, về lý thuyết, có thể tăng sản lượng lên đến 12,5 triêu thùng/ngày. Và Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak hôm 6/3 nói “kể từ ngày 1/4, chúng tôi sẽ bắt đầu hoạt động sản xuất dầu mỏ mà không cần phải quan tâm đến hạn ngạch được áp dụng trước đó. Nhưng điều này không có nghĩa mỗi quốc gia sẽ dừng việc điều hành và phân tích những diễn biến của thị trường”.
“Các thành viên dường như đã chuẩn bị cho một cuộc chiến về giá bằng cách công bố các kế hoạch tăng sản lượng”, theo Edward Bell, chuyên gia phân tích đến từ Emirates NBD. “Kết quả này là hoàn toàn trái ngược với những dự đoán trước đây về một thỏa thuận tiếp tục hạn chế sản lượng nhằm đối phó với thực trạng lực cầu giảm sút do Covid-19 bùng nổ”.
Chạy đua thị phần?
Các chiến lược của Arab Saudi và Nga hé lộ tham vọng gia tăng thị phần, không phải ổn định thị trường cũng như thúc đẩy giá dầu. Sản lượng dầu tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi đang ở mức thấp hơn sản lượng đỉnh trong năm 2018 khoảng 2 triệu thùng/ngày, điều đó có nghĩa rằng còn có rất nhiều dư địa để các quốc gia gia tăng sản lượng.
“Các quốc gia thành viên OPEC+ có thể sẽ gia tăng sản lượng từ quý II, và một lượng lớn dầu sẽ được tung ra thị trường”, Bell viết. “Chúng tôi dự đoán Arab Saudi, UAE và các quốc gia sản xuất dầu lớn khác trong khối OPEC sẽ tăng sản lượng trong phần còn lại của năm 2020 khi họ quay trở lại trung thành với chiến lược chiếm thị phần hơn là chú trọng đẩy giá dầu”.
Trong khi đó, Nga đang duy trì sản xuất ở mức thấp hơn 130.000 thùng/ngày so với đỉnh, “và quốc gia này tỏ ra khá dứt khoát trong việc thực hiện chiến lược tăng thị phần của họ”, Bill bổ sung.
Trong bối cảnh lượng dầu tồn kho sẽ tăng lên, và các quốc gia thành viên OPEC+ quyết tâm tham gia cuộc chiến thị phần, các chuyên gia phân tích như Bell dự đoán thị trường “chìm” trong tình trạng thừa cung ít nhất là trong 3 quý đầu của năm 2020.
Cung tăng, tồn kho tăng
Nguồn cung dầu sẽ tăng, sản lượng dầu dư thừa cũng dư giả, đồng thời dịch Covid-19 khiến cho lượng tiêu thụ dầu toàn cầu giảm mạnh là những nguyên nhân đẩy giá dầu giảm sâu. Câu hỏi ở thời điểm hiện tại là giá dầu sẽ giảm sâu đến mức nào?
Không phải ai cũng chung quan điểm giá dầu sẽ giảm xuống mức 20 USD/thùng như dự đoán của Khedery. Goldman Sachs dự đoán mức giá đáy sẽ chỉ 35 USD/thùng khi chiến tranh giá dầu xảy ra, hoặc rơi xuống mức 40 USD/thùng trước khi quay trở lại mức trung bình 42 USD/thùng trong quý II.
Emirates NDB dự báo giá dầu Brent dao động ở mức trung bình 45 USD/thùng, và giá dầu WTI sẽ ở mức 40 USD/thùng trong bối cảnh “với nhiều khó khăn trong quý II trước khi thị trường có dấu hiệu phục hồi trong quãng thời gian còn lại của năm”.

Cơ chế 'rút phích' của Phố Wall trong những ngày lao dốc không phanh



Phố Wall ngày 9/3 phải tạm dừng giao dịch ngay sau khi mở phiên chưa đầy 5 phút để ngăn đà bán tháo của nhà đầu tư.

Chưa đầy 5 phút đầu phiên 9/3, S&P 500 mất 7%, kích hoạt đợt ngừng giao dịch 15 phút đầu tiên để ngăn Phố Wall bị bán tháo diện rộng. Khi thị trường giao dịch trở lại lúc 9h49 ET, Dow Jones, Nasdaq và S&P 500 thoát đáy, chỉ giảm 5,5%, và giữ được đến hết phiên sáng.
“Đó là lý do tại sao cần có các ngưỡng ngừng giao dịch. Chúng cho phép nhà đầu tư có thời gian để bớt hoảng loạn”, theo Chris Zaccarelli, giám đốc đầu tư tại Indepentdent Advisor Alliance. “Cho mọi người có thêm thời gian để suy đoán luôn là ý tưởng tốt”.
“Cần giữ được cái đầu lạnh”, John Spensieri, trưởng bộ phận giao dịch chứng khoán tại Stifel, nói. Với nhiều nhân viên ở Stifel, 9/3 là ngày đầu tiên trong sự nghiệp họ chứng kiến một lần ngừng giao dịch tự động được kích hoạt.
“Chắc chắn, 15 phút ngừng giao dịch đã tạo ra một chút ổn định”, Rob Romano, trưởng bộ phận tư vấn danh mục đầu tư tại UBS Global Wealth Management, nhận định.
Ba ngưỡng giảm của S&P 500 sẽ kích hoạt ngừng giao dịch tự động.

Phố Wall có 3 ngưỡng ngừng giao dịch tự động, đồng nghĩa nhà đầu tư có nhiều thời gian để bình tĩnh hơn trong những ngày xấu. Hệ thống này được triển khai tại sàn NYSE vào năm 1988, sau khi Phố Wall trải qua ngày “thứ Hai đen” 19/10/1987, S&P 500 mất 20%. Nhiều người cho rằng chính việc các lệnh mua, bán được đặt liên tục đã khiến tình hình thêm trầm trọng.
Ngưỡng đầu tiên kích hoạt khi S&P giảm 7%, so với chốt phiên gần nhất, nhưng trước 15h25, thị trường ngừng giao dịch 15 phút giống như đầu phiên 9/3. Vào đúng hoặc sau 15h25, thị trường vẫn hoạt động bình thường.
Ngưỡng thứ hai kích hoạt khi thị trường giao dịch trở lại và S&P 500 giảm 13%. Thời gian ngừng giao dịch cũng là 15 phút, trừ khi mức giảm 13% xảy ra sau 15h25.
Ngưỡng thứ ba kích hoạt khi S&P 500 giảm 20%, thị trường ngừng giao dịch bất kể thời điểm xảy ra. Ngưỡng này từng được kích hoạt ngày 27/10/1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.

Ngày 27/10/1997 còn được gọi là “thứ Hai đẫm máu”. Phiên giao dịch này phải ngừng hai lần, lần đầu trong 30 phút, khi Dow Jones giảm 350 điểm. Lần thứ hai là khi Dow Jones giảm 550 điểm, tương đương 7,2%, thị trường đóng cửa. Khi đó, cơ chế ngừng giao dịch được dựa trên biến động của Dow Jones.